[Tài liệu] Tư liệu viết truyện trinh thám

Discussion in 'Tủ sách' started by HwangThien, May 25, 2017.

  1. HwangThien

    HwangThien Design Team
    Staff Member Moderator

    Joined:
    Nov 1, 2015
    Messages:
    491
    Likes Received:
    179
    #1 HwangThien, May 25, 2017
    Last edited by a moderator: Jun 17, 2017
    CÁC DẠNG MẬT THƯ
    Thiên said: cái này là hack não đại thần @@

    Mật thư là cách dịch sát nghĩa của từ cryptogram (crypto bắt nguồn từ kryptos trong tiếng Hi Lạp, nghĩa là ẩn giấu). Mật thư được sử dụng trong trò chơi lớn để thử thách khả năng suy luận, sự nhạy bén và vốn kiến thức chung của trại sinh. Mật thư có thể viết trên giấy, hoặc được phát cho trại sinh hoặc bị giấu ở những nơi khó tìm; hoặc trên lá cây hay được xếp đặt trên đường đi... Cấu trúc của một mật thư tiêu biểu gồm:

    - Khóa của mật thư, là gợi ý để tìm ra dạng và chìa khóa của mật thư, kí hiệu là OTT hay O=n / On.
    - Mật thư là đoạn văn bản/kí hiệu nằm giữa NW và AR.
    - Kí hiệu NW và AR từng được sử dụng trong kĩ thuật điện báo vô tuyến (radiotelegraphy) trong đó NW: bắt đầu truyền tin và AR: kết thúc truyền tin. Ở nhiều nơi, mật thư còn được kí hiệu là BV (bản văn - dễ gây nhầm lẫn với bạch văn) hay MT (mật thư). Thông điệp sau khi giải mã thường được gọi là Bạch văn (BV). Hiện tại cách gọi thông điệp mã hóa là NW (kết thúc bằng AR) và thông điệp sau khi giải mã là BV (bạch văn) thường được dùng nhất.

    Mật thư gồm 3 hệ thống lớn:

    I. Hệ thống thay thế: các chữ hoặc nhóm chữ trong BV được thay bằng các chữ/nhóm chữ hoặc/và kí hiệu (mật thư chuồng bồ câu, chuồng bò...) theo một quy tắc nhất định.

    II. Hệ thống dời chỗ: các chữ trong BV được sắp xếp lại theo một quy tắc nhất định.

    III. Hệ thống ẩn giấu: gồm 2 dạng chính:

    1. BV được ẩn ngay trong mật thư.
    2. Mật thư được ẩn đi bằng các biện pháp hóa học (còn gọi là mật thư hóa học).
    Điểm khác nhau cơ bản giữa hệ thống thay thế và dời chỗ là việc thay thế sẽ làm thay đổi các "giá trị" của mỗi chữ trong BV mà không thay đổi vị trí của chúng, còn dời chỗ thì ngược lại. Các hệ thống (và các dạng) có thể đồng thời được sử dụng trong mật thư.
    Trong phần tiếp theo, chúng ta sẽ đi vào dạng đầu tiên: dạng Caesar.

    -***-

    QUY ƯỚC CHUNG
    1. Trong bài viết này, mật thư sẽ được trình bày như sau:

    - OTT: <khóa>
    - NW và BV: có 2 cách trình bày:
    + Ngắt từng từ: XIN - CHAO - CAC - BAN.
    + Ngắt thành từng cụm 5 chữ: XINCH - AOCAC - BAN.

    2. Bảng chữ cái:

    26 chữ:
    A B C / D E F / G H I / J K L
    M N O / P Q R / S T U / V W X / Y Z

    29 chữ:
    A Ă Â / B C D / Đ E Ê / G H I / K L M
    N O Ô / Ơ P Q / R S T / U Ư V / X Y
    3. Quốc ngữ điện tín (TELEX) và VNI
    AS = A1 = Á
    AF = A2 = À
    AR = A3 = Ả
    AX = A4 = Ã
    AJ = A5 = Ạ
    AA = A6 = Â
    OW = O7 = Ơ
    (UOW = ƯƠ)
    AW = A8 = Ă
    DD = D9 = Đ
    4. Morse
    A = .-
    B = -...
    C = -.-.
    D = -..
    E = .
    F = ..--
    G = --.
    H = ....
    I = ..
    J = .---
    K = -.-
    L = .-..
    M = --
    N = -.
    O = ---
    P = .--.
    Q = --.-
    R = -.-
    S = ...
    T = -
    U = ..-
    V = ...-
    W = .--
    X = -..-
    Y = --.-
    Z = --..
    CH = ----

    1 = .----
    2 = ..---
    3 = ...--
    4 = ....-
    5 = .....
    6 = -....
    7 = --...
    8 = ---..
    9 = ----.
    0 = -----

    -**********-

    I. HỆ THỐNG THAY THẾ
    I.1. Mã Caesar và các dạng thể hiện

    Mã Caesar là dạng thay thế chữ - chữ đơn giản nhất, mỗi chữ cái trong BV được thay thế bằng chữ cái tương ứng cách nó k chữ trong bảng alphabet. Ví dụ với k=3 thì A thay bằng D, B thay bằng E, ..., Z thay bằng B. Mã này được đặt tên theo Julius Caesar.
    Với k=3, ta có 2 bảng chữ cái sau:
    (các bạn chú ý là bảng chữ cái của NW đã được dịch lên 3 chữ so với bảng của BV)

    BV: A B C / D E F / G H I / J K L
    NW: D E F / G H I / J K L / M N O
    BV: M N O / P Q R / S T U / V W X / Y Z
    NW: P Q R / S T U / V W X / Y Z A / B C

    Có thể sử dụng vòng đĩa gồm 2 đĩa tròn xoay độc lập và đồng tâm, mỗi đĩa đều có 1 bảng chữ cái. Với k = 3 ta xoay sao cho A (ngoài) và D (trong) khớp nhau, còn k = -3 thì ngược lại.
    Trong Trò chơi lớn, mã Caesar được thể hiện dưới 2 dạng: Chữ - chữ và số - chữ.

    I.1a. Một số dấu hiệu nhận dạng: (sưu tầm)

    Chữ
    A: Người đứng đầu(Vua, anh cả,..), át xì, ây, ngôi sao, anh*, ách
    B: Bò, Bi, 13, Bê…
    C: Cê, cờ, trăng khuyết
    D: Dê, đê
    E: e thẹn, 3 ngược, tích, em*, đồi* (morse)
    F: ép, huyền
    G: Gờ, ghê, gà
    H: Hắc, đen, thang, hờ, hát
    I: cây gậy, ai, số một, tôi*
    J: Dù*, gì*, móc, nặng, bồi (bài)
    K: Già, ca, kha, ngã ba số 2
    L: En, eo, cái cuốc, lờ
    M: Em, mờ, mã*
    N: Anh, nờ, phương bắc*
    O: Trăng tròn, bánh xe, trứng, tròn, không* (tình yêu không phai...)
    P: Phở, phê, chín ngựơc
    Q: Cu, rùa, quy, ba ba, bà đầm, bà già, đồng (hóa học...)
    R: Hỏi, rờ
    S: Việt Nam, hai ngược, sắc
    T: Tê, Ngã ba, te, kiềng 3 chân*, núi* (morse)
    U: Mẹ, you, nam châm
    V: Vê, vờ, số 5 La Mã
    W: Oai, kép, anh em song sinh, ba nằm, mờ ngược
    X: Kéo, ích, Ngã tư, cấm, dấu ngã
    Y: Ngã ba, cái ná, kiềng 3 chân*
    Z: Kẽ ngoại tộc, anh nằm, co....

    ** Ngoài ra còn có 1 số trường hơp như "Đầu lòng hai ả tố nga..." thì L=2 và còn có thể áp dụng SMP (semaphore).
    Số: (bổ sung sau)

    I.1b: Ví dụ và thực hành:

    VD1:
    OTT:Anh em như thể tay chân
    Rách lành đùm bọc, dở hay đỡ đần
    NW: DIVD - OHBZ - NPJ - UPU - MBOI - AR.
    Anh = N, Em = M, tra bảng chữ cái hoặc xoay vòng đĩa với N=M ta có:
    NW: A B C / D E F / G H I / J K L
    BV: Z A B / C D E / F G H / I J K

    NW: M N O / P Q R / S T U / V W X / Y Z
    BV: L M N / O P Q / R S T / U V W / X Y
    => BV: CHUC NGAY MOI TOT LANH.

    VD2:
    OTT: Em tôi 16 trăng tròn.
    NW: 4, 17, 11 - 8, 16 - 23, 4 - 25, 8 - AR.

    Em = M, ta có M = 16.
    Lập bảng hoặc xoay vòng đĩa để M = 16:

    BV: A. B. C. / D. E. F. / G. H. I. / J. K. L.
    NW: 4. 5. 6. / 7. 8. 9. / 10 11 12 / 13 14 15

    BV: M. N. O. / P. Q. R. / S. T. U. / V. W. X. / Y. Z.
    NW: 16 17 18 / 19 20 21 / 22 23 24 / 25 26 1. / 2. 3.

    Thực hành:
    1/
    OTT: Đi chăn bò, cầm cây roi thật to.
    NW: FTM - MAN - MATR - MAX - AR.

    2/
    OTT: Con ma con quỷ.
    NW: OLSM - HSRK - AR.

    3*/
    OTT: Dù ai nói ngả nói nghiêng
    Lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân.
    NW: ZTGZS - ZSGAU - CBO - NPJ - AR.

    4/
    OTT: sin x = x
    NW: 5, 10, 24, 16, 9, 21 - 25, 3 - 12, 3, 8 - 4, 3, 16, 12 - AR.

    5/
    OTT: Áo anh 3 màu.
    NW: 23, 2, 15, 21, 21 - 8, 12, 3, 4, 6 - 25, 25, 8, 24, 15 - 9, 17, 8, 1 - AR.

    6/
    OTT: 3/4 = N, 4/3 = ?
    NW: 8, 6, 3, 20, 17 - 22, 3, 11, 23 - 26, 3, 12, 2 - AR

    7/
    OTT: Nguyên tử lượng của Oxi.
    NW: 13, 6, 15 - 5, 22, 16, 15, 8 - 15, 2, 16 - 4, 2, 4 - 3, 2, 15 - AR.

    -***-

    I.2: Dạng chữ-chữ tổng quát

    Trong phần trước, các bạn đã tìm hiểu về mã Caesar. Mã Caesar gồm hai bảng chữ cái tiêu chuẩn bị lệch vài chữ. Đó là trường hợp riêng của dạng mã chữ - chữ nói chung gồm 2 bảng chữ cái, 1 bảng cho NW và 1 bảng cho BV.

    I.2a: Mã Atbash

    Mã Atbash là một dạng mã thay thế từng được sử dụng cho bảng chữ cái Hebrew. Chữ đầu sẽ được thay thế bằng chữ cuối trong bảng chữ cái, tiếp theo chữ thứ hai sẽ được thay bằng chữ kế cuối... cho đến hết.
    Từ đó, ta có bảng tra áp dụng cho bảng 26 chữ:

    NW: A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z
    BV: Z Y X W V U T S R Q P O N M L K J I H G F E D C B A

    Hai bảng chữ cái của BV và NW ngược nhau, nên ta sẽ viết gọn:

    A B C D E F G H I J K L M
    Z Y X W V U T S R Q P O N

    Để giải mật thư chỉ cần tìm chữ trong NW rồi tra qua bên kia là xong.

    I.2b: Mã định ước

    Là dạng mã chữ - chữ, NW và BV có 2 bảng chữ cái riêng biệt, được khởi tạo bằng 1 hoặc 2 từ khóa có nghĩa.

    Xử lí từ khóa. Bảng chữ cái sẽ được khởi tạo bằng cách viết từ khóa, theo sau là phần còn lại của bảng chữ cái theo đúng thứ tự alphabet. Nếu trong từ khóa có chữ cái bị trùng, ta chỉ để lại chữ cái được xuất hiện đầu tiên thôi. Ví dụ CHIEENS THAWNGS sẽ trở thành CHIENSTAWG.

    Bảng chữ cái của NW và BV.
    Có 3 cách khởi tạo bảng chữ cái chính cho NW và BV:

    Cách 1: Sử dụng từ khóa cho bảng của NW

    NW: K Y X N A W G B C D E F H I J L M O P Q R S T U V Z
    BV: A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z

    Cách 2: Sử dụng từ khóa cho bảng của BV

    NW: A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z
    BV: B I N H F M X A C D E G J K L O P Q R S T U V W Y Z

    Cách 3: Sử dụng từ khóa cho cả hai bảng

    NW: M A T J H U W B C D E F G I K L N O P Q R S V X Y Z

    BV: T H A Y E S B C D F G I J K L M N O P Q R U V W X Z

    I.2c: Thực hành
    1/
    OTT: Dòng 13 đến 18 "Đàn ghi ta của Lorca" - Thanh Thảo.
    NW: KGUEL - ULNJU - LKRPL - KHEUL - ENLB - AR.

    2/
    OTT: Việc học như con thuyền lội dòng nước ngược, không tiến ắt sẽ lùi.
    NW: SLLN - MZB - OZU - GSFDH - YZ - AR.

    3*/
    OTT: Anh ở đầu sông em cuối sông
    Uống chung dòng nước Vàm Cỏ Đông.
    NW: PSHVW - OLVZI - PSAVW - OL - AR.

    4/
    OTT: Thành công không mang lại hạnh phúc, nhưng chính cảm giác hạnh phúc góp phần dẫn đến thành công.
    NW: ABYGA - KNPUK - PHOCA - BCRBP - TTNGH - KLRBI - UKLDB - BC - AR.

    I.3: Tọa độ và dựa trên tọa độ
    Dạng tọa độ bắt nguồn từ binh chủng pháo binh, là dạng mật thư thay thế đòi hỏi độ chính xác cao và dễ dàng lồng ghép với các dạng khác. Có nhiều loại bảng tọa độ (5*5, 6*6, 4*6, 8*4 (phương hướng), 3*3*3...), trong đó dạng 5*5 và 8*4 được sử dụng thường xuyên. Mỗi tọa độ sẽ đại diện cho 1 chữ và ngược lại, nhưng trong 1 số trường hợp hiếm gặp thì 1 chữ sẽ tương ứng với nhiều tọa độ.

    Cách đánh tọa độ. Dòng và cột có thể được đánh số từ trên xuống dưới, từ trái qua phải (1 2 3 4 5...), hoặc đánh chữ theo từ khóa (VULAN...). Khi ghi tọa độ, thường theo quy tắc của Toán học là hoành độ (số cột) trước, tung độ (số dòng) sau; tuy nhiên một số nơi ghi theo kiểu tung độ trước, hoành độ sau.

    Xử lí từ khóa. Một số bảng cần phải khởi tạo bằng một từ khóa, cách xử lí từ khóa có thể xem lại ở phần I.2b: Mã "định ước". Nhưng cũng nên nhắc lại là trong tuyệt đại đa số trường hợp, bảng tọa độ không bao giờ bị trùng chữ.
    Cách điền bảng tọa độ. Nếu khóa là chữ cái, trình tự điền vẫn là theo alphabet, nhưng được điều chỉnh sao cho (các) chữ cái làm khóa ở đúng vị trí. Cách điền có thể nằm trong khóa, nhưng thường mặc nhiên được hiểu là từ trên xuống, từ trái qua. Các ô thừa (nếu có) được đặt cố định ở cuối bảng và để trống. Trong số ít trường hợp, các ô trống này có thể được sử dụng, nhưng không thay thế cho các chữ cái.

    Ví dụ: Khóa chỉ ra I đứng giữa thì ban đầu ta sẽ lập bảng với I là tâm:

    + 1 2 3 4 5
    1 . . . . .
    2 . . . . .
    3 . . I . .
    4 . . . . .
    5 . . . . .

    Lấy I làm chuẩn, điền lùi lại: (không có Z)

    + 1 2 3 4 5
    1 V W X Y A
    2 B C D E F
    3 G H I . .
    4 . . . . .
    5 . . . . .

    Sau đó điền tiến nửa bảng còn lại:

    + 1 2 3 4 5
    1 V W X Y A
    2 B C D E F
    3 G H I J K
    4 L M N O P
    5 Q R S T U

    Với trường hợp 1 chữ ở những vị trí khác thì đều làm như vậy.
    Nếu 2 chữ ở 2 vị trí thì cần xét vị trí của chúng trong bảng ngược hay xuôi để chọn chiều cho đúng.
    Nếu không đúng thì chúng được xem là 2 từ khóa.

    I.3a: Các bảng tọa độ thường gặp

    Bảng 5*5 (bỏ Z)

    + 1 2 3 4 5
    1 A B C D E
    2 F G H I J
    3 K L M N O
    4 P Q R S T
    5 U V W X Y

    Bảng 6*6

    + 1 2 3 4 5 6
    1 A B C D E F
    2 G H I J K L
    3 M N O P Q R
    4 S T U V W X
    5 Y Z 0 1 2 3
    6 4 5 6 7 8 9

    Bảng 8*4 (phương hướng)

    + Đ T N B ĐN TN ĐB TB
    1 A B C D E. F. G. H.
    2 I J K L M. N. O. P.
    3 Q R S T U. V. W. X.
    4 Y Z * * ** ** ** **

    Bảng 3*3*3

    ...B1...........B2...........B3
    + 1 2 3......+ 1 2 3......+ 1 2 3
    1 A B C......1 J K L......1 S T U
    2 D E F......2 M N O......2 V W X
    3 G H I......3 P Q R......3 Y Z *

    Bảng Kim tự tháp: (bỏ Z)

    ............

    ............4 .A
    .............B 3 .C .D
    .............E .F 2 .G .H .I
    .............J .K .L 1 .M .N .O .P
    .............Q .R .S .T 0 .U .V .W .X .Y
    ............-4 -3 -2 -1 X .0 .1 .2 .3 .4

    I.3b: Bảng "thụt thò" **

    Đây là một dạng bảng tọa độ mang tính chất đặc biệt ở chỗ một số chữ sẽ chỉ có hoành độ chứ không có tung độ tương ứng, vì vậy sẽ làm cho NW ngắn hơn so với các bảng tọa độ khác.

    Hình thức:

    + 1 2 3 4 5 6 7 8 9 0
    ! A B C ! D E F G ! H
    4 I J K L M N O P Q R
    9 S T U V W X Y Z * *


    Bảng luôn luôn có 10 cột. Dòng đầu tiên sẽ được điền kín, trừ 2, 3... ô trống tùy bảng chữ cái, dòng này không đánh số. Số dòng còn lại đúng bằng số ô trống ở dòng đầu. Ta đánh số các dòng còn lại bằng số hiệu của các cột bị khuyết, sau đó ta điền đến hết bảng chữ cái.
    (VD: như bảng trên, dòng đầu bỏ trống 2 ô 4 và 9, 2 dòng tiếp theo mang số lần lượt là 4 và 9).

    Để mã hóa, chữ ở dòng đầu sẽ thay bằng số cột chứa nó, các dòng sau ngược lại với tọa độ thường (hàng trước, cột sau). Khi giải mã, chú ý chữ số mà bạn đang đọc.

    VD: (bảng trên)
    NW: 59346 84414 1 // AR.

    Đầu tiên là số 5, mà hàng 5 không có nên tra hàng trên cùng -> D.
    Tiếp theo là số 9 -> tra hàng 9 cột 3 -> U
    Tiếp theo là số 4 -> tra hàng 4 cột 6 -> N
    Tiếp theo là số 8 -> không có hàng 8 -> G...

    BV là DUNG LAI (dừng lại).

    Tiếp tục phần này, ta sẽ tìm hiểu về một số dạng mã thay thế dựa trên hình thức của bảng tọa độ.

    I.3c: Dạng ma phương

    Định nghĩa ma phương. Ma phương là một bảng vuông cạnh n, được điền n*n số tự nhiên từ 1 đến n*n, mỗi ô 1 số, sao cho tổng các số trên hai đường chéo, trên các cột, các dòng đều bằng nhau.

    Nhận dạng khóa. Khóa của dạng ma phương thường chính là tổng các số trên 1 dòng/cột/đường chéo của ma phương. Ví dụ ma phương 3 có tổng là 15, ma phương 5 là 65, ma phương 7 là 175 (Vì vậy dạng này còn có tên khác là khóa 65).

    Ma phương 5*5. Đây là ma phương thường gặp nhất trong dạng này. Sau khi điền số vào ma phương, chữ sẽ được điền tương ứng với số vào các ô theo các quy tắc điền bảng tọa độ. Vì vậy, về bản chất, đây chính là một dạng thay thế số - chữ.

    Cách dựng ma phương 5*5:

    1. Vẽ hình vuông 5*5.
    2. Điền số 1 vào ô (3, 1), gọi đó là ô hiện tại
    3a. Nếu ô chéo phía trên ô hiện tại trống, điền số tiếp theo vào đó.
    3b. Ngược lại: điền số tiếp theo vào ô phía dưới ô hiện tại.
    4. Gọi ô vừa điền là ô hiện tại.
    5. Nếu đủ 25 số thì kết thúc, ngược lại: trờ về bước 3a.

    Ta có 1 bảng 5x5 trống, điền sẵn số 1 vào vị trí. Ta sẽ đi chéo "lên" qua bên "phải" (hãy tưởng tượng như tờ giấy được cuộn tròn lại)

    * * 1 * *
    * 5 7 * *
    4 6 * * *
    * * * * 3
    * * * 2 *

    Đến 5 thì nếu đi tiếp sẽ "chạm" phải số 1, ta phải lùi lại, xuống 1 ô và tiếp tục: 6, 7... cho đến hết.

    *Tương tự với ma phương 7 và ma phương 3, ta dựng được các ma phương sau[1]:

    .Ma phương 3............Ma phương 5......................Ma phương 7
    ..08 01 06............17 24 01 08 15 ...............30 39 48 01 10 19 28
    ..03 05 07............23 05 07 14 16 ...............38 47 07 09 18 27 29
    ..04 09 02............04 06 13 20 22 ...............46 06 08 17 26 35 37
    ......................10 12 19 21 03 ...............05 14 16 25 34 36 45
    ......................11 18 25 02 09 ...............13 15 24 33 42 44 04
    .................................................. .21 23 32 41 43 03 12
    .................................................. .22 31 40 49 02 11 20
    I.3d. Mã Playfair *

    Mã Playfair là một mã thay thế cặp chữ dựa trên bảng tọa độ, do Charles Wheatstone phát minh vào năm 1854.

    3 bước mã hóa Playfair:
    1/ Chuẩn bị 1 bảng tọa độ đã được khởi tạo bằng từ khóa (nếu có), không cần đánh tọa độ.
    2/ Xử lí BV: Tách các chữ trong BV thành từng cặp, nếu gặp 1 cặp chữ đúp (AA, BB, ...) hoặc bị lẻ (ở cuối BV) thì phải thêm chữ X (hoặc Z với TELEX) vào BV ở vị trí tương ứng.
    3/ Tra bảng theo 3 quy tắc:
    Quy tắc 1: Nếu 2 chữ tạo thành đường chéo, "vẽ" 1 hình chữ nhật trong bảng có 2 đỉnh là vị trí của 2 chữ trong cặp, thay cặp chữ tương ứng bằng đường chéo còn lại của hình chữ nhật theo đúng thứ tự.
    Quy tắc 2: Nếu 2 chữ cùng cột, ta tiến mỗi chữ xuống 1 bước.
    Quy tắc 3: Nếu 2 chữ cùng dòng, ta tiến mỗi chữ qua phải 1 bước.

    Ví dụ: Bảng tọa độ với từ khóa PLAYFAIR

    P L A Y F
    I R B C D
    E G H J K
    M N O Q S
    T U V W X

    Ta có BV: MAT THU THAY THE
    -> MA T[X] TH UT HA YT HE

    Dưới đây là một số cặp mã hóa ví dụ.

    Trường hợp 1: MA tạo thành đường chéo -> OP.

    P L A Y F......P <- A
    I R B C D.......(x)..
    E G H J K......M -> O
    M N O Q S
    T U V W X

    Trường hợp 2: TX cùng dòng -> UT (qua phải 1 bước).

    P L A Y F......T -> U...X -> {T}
    I R B C D
    E G H J K
    M N O Q S
    T U V W X

    Trường hợp 3: HA cùng cột -> OB (xuống 1 bước).

    P L A Y F
    I R B C D......B....A
    E G H J K..........
    M N O Q S......O....B
    T U V W X
    .............
    Cuối cùng NW là: OP UT VE VU OB PW JG
    hay OPUTV - EVUOB - PWJG.

    I.3e: Thực hành
    1/
    OTT: Đám cưới kim cương.
    NW: 9, 15, 11, 6, 17 - 1, 7, 15, 3, 22 - 3, 19, 22, 20, 5 - 6, 22, 20, 5, 13 - 22, 3, 14, 3, 2 - 11, 17, 20, 8, 14 - 15, 11 / AR.

    2/
    OTT: Dù ở Ai Cập, con vẫn nhớ
    Mẹ là gốc quê hương.[2]
    NW: (1, 1) (0, 2) (0, 4) (4, 0) (1, 2) - (2, 1) (0, 1) (1, 1) (0, 4) (4, 0) - AR.

    3/
    OTT: Tối thứ năm trăng rằm rất đẹp
    Khi về nhà lại không có anh
    Anh ở đâu khi trời đã sáng
    Nhớ vô cùng con người Việt Nam.[3]
    NW: 83 63 33 34 71 - 84 41 43 84 41 - 43 84 23 43 74 - 52 72 71 84 - AR.

    4/
    OTT: Sắc hỏi Huyền ngã có nặng không?
    "Nặng đầu và uể oải lắm".[4]
    NW: Ạ Ỏ Ụ Ì Ụ - Ì Ỏ Á Í Ụ - Ỉ Ẽ Ỏ Ả Ẽ - À É Ụ Ì Ạ - Í Ũ - AR.

    5/
    OTT: Kí túc xá... vắng em chiều bơ vơ
    NW: B202, C102, B303, B101, A102 - C202, B202, B101, C102, C203 - A101, B202, A102, B303, A202 - B201 - AR.

    -***-
    [1] Cách này chỉ đúng với ma phương lẻ.
    [2], [3], [4] Sưu tầm.


    I.4: Mã Vigenère và mã Gronsfeld
    I.4a: Giới thiệu

    Mã Vigenère.
    Mã Vigenère thực ra được phát minh bởi Giovan Battista Bellaso vào năm 1553; nhưng một số tư liệu vào thế kỉ 19 cho rằng Blaise de Vigenère là tác giả của dạng mã sau này được biết đến mang tên ông. Vigenère thực ra là tác giả của mã autokey được biết đến lần đầu tiên vào năm 1586.

    Mã Vigenère là 1 dạng mã thay thế, có bản chất là nhiều bảng Caesar liên tiếp nhau, sử dụng luân phiên theo một từ khóa cho trước.

    Ví dụ mã hóa:

    BV: (phần I.1a)
    MACAE - SARLA - DANGT - HAYTH - EDONG - IANNH - ATMOI - CHUCA - I...
    OTT: MATTHU

    Cách 1:
    Ta có bảng chữ - số sau:

    A. B. C. / D. E. F. / G. H. I. / J. K. L. /
    0. 1. 2. / 3. 4. 5. / 6. 7. 8. / 9. 10 11
    M. N. O. / P. Q. R. / S. T. U. / V. W. X. / Y. Z.
    12 13 14 / 15 16 17 / 18 19 20 / 21 22 23 / 24 25
    (Lưu ý là A=0 trong Vigenère)

    Bước 1: Quy đổi khóa và BV ra số (theo bảng trên)

    Ta có MATTHU = 12 0 19 19 7 20, sau đó chạy khóa này:

    BV: M. A. C. A. E. S. A. R. L. A. D. A....
    BV' 12 00 02 00 04 18 00 17 11 00 03 00...
    K : M. A. T. T. H. U. M. A. T. T. H. U....
    K': 12 00 19 19 07 20 12 00 19 19 07 20...

    Bước 2: Xếp các số tương ứng với nhau theo từng cột.
    Bước 3: Thực hiện cộng theo từng cột, chia cho 26 lấy dư:

    BV' 12 00 02 00 04 18 00 17 11 00 03 00...
    K': 12 00 19 19 07 20 12 00 19 19 07 20...
    ....-- -- -- -- -- -- -- -- -- -- -- --...
    NW' 24 00 21 19 11 12 12 17 04 19 10 20...

    Bước 4: Thay kết quả vừa tính được ở bước 3 bằng chữ:

    NW' 24 00 21 19 11 12 12 17 04 19 10 20...
    NW: Y. A. V. T. L. M. M. R. E. T. K. U....

    Đến đây thu được NW: YAVTL - MMRET - KU...

    BV: M. A. C. A. E. S. A. R. L. A. D. A....
    BV' 12 00 02 00 04 18 00 17 11 00 03 00...
    K': 12 00 19 19 07 20 12 00 19 19 07 20...
    NW' 24 00 21 19 11 12 12 17 04 19 10 20...
    NW: Y. A. V. T. L. M. M. R. E. T. K. U....

    ......(Hình tổng hợp kết quả của 4 bước)

    Đối với bảng chữ cái tiếng Việt, thay vì chia 26 thì chia 29, các bước còn lại tương tự.

    Với vòng đĩa và BV khá dài, ta có thể sử dụng cách 2:

    Cách 2:*

    Bước 1: Viết từ khóa.
    Bước 2: Viết BV phía dưới từ khóa, mỗi dòng có độ dài đúng bằng độ dài từ khóa, viết hết dòng này đến dòng khác và thẳng cột (như hình minh họa)[1]
    Bước 3: Xoay vòng đĩa sao cho vòng ngoài (A) ứng với vòng trong là chữ cái tương ứng của từ khóa. Tra vòng đĩa với vòng ngoài là BV, vòng trong là NW. Viết lại theo từng cột ở chỗ khác của tờ giấy.
    Bước 4: Tại "chỗ khác" đó, đọc theo từng dòng sẽ ra NW.

    M A T T H U.............NW
    -----------.........-----------
    M A C A E S.........Y A V T L M
    A R L A D A.........M R E T K U
    N G M A D O.........Z G F T K I
    N G I A N N.........Z G B T U H
    H A T M O I.........T A M F V C
    C H U C A I.........O H N V H C

    Mã Gronsfeld. Là một biến thể của mã Vigenère, với khóa chỉ gồm 10 chữ số từ 0 đến 9, tương ứng với A..J trong khóa Vigenère.

    I.4b: Thực hành:
    1/
    OTT: Vòng tròn bẻ lại làm đôi
    Chia cho bán kính rồi thời tính ra.
    NW: PPXQB - QYBFR - ORJBC - AR.

    2*/
    OTT: 13.00.00.00.0
    NW: MOMZZ - MNDCO - GYORY - BIKNE - MO - AR.

    3*/
    OTT:
    Tay đưa cao lên trời
    Tay dang ngang bờ vai
    Tay giơ ra trước mặt
    Buông cả hai tay.
    NW: UJBOE - QVFQS - ZAUJB - OEQGZ - AX - AR.

    4/
    OTT: Nitơ rắc rối nhất đời
    I, II, III, IV khi thời lên V.
    NW: GYVPP - GMFXV - MBXJB - RMKCC - ZWAWI - FRLJO - ZG - AR.

    -***-
    [1] Đừng nhầm với CAMRANH (dạng mã thuộc hệ thống dời chỗ).
    -***-
    I.5: Các dạng khác (cần bổ sung)

    I.5a: Thay thế chữ mở rộng

    Ngoài các dạng chữ - chữ và chữ - số như đã đề cập ở I.1 và I.2, còn có những dạng thay chữ bằng các bộ chữ - số khác, sẽ được trình bày ở đây.

    1/
    OTT: Sang năm, em lên bảy.
    Sang năm, anh cũng lên bảy.
    NW: VII, 4, 8, VII, VI - 11, 1, X, 11, 8 - 5, X, XI, 3 - AR.

    Từ "Sang năm" không có ý nghĩa gì trong câu này.
    Do có xuất hiện số La Mã nên M = 7, N = VII.
    Vậy ta có bảng tra:

    A B C D. E .F. G H. I J K L.
    1 I 2 II 3 III 4 IV 5 V 6 VI

    M .N. O .P.. Q R. S. T U. V. W. .X.
    7 VII 8 VIII 9 IX 10 X 11 XI 12 XII

    Y. .Z..
    13 XIII

    2/
    OTT: Ở giữa chúng ta luôn có một bức tường vô hình ngăn cách.
    NW: NT SW VF WA CE - VF RX KM WE YE - NP - AR.

    Để ý đến "Ở giữa chúng ta". Nếu nhìn vào vòng đĩa sẽ thấy:

    Giữa N và T là Q:
    N O P Q R S T
    Giữa S và W là U:
    S T U V W...

    Phần dịch ra BV hoàn chỉnh sẽ dành lại cho độc giả, xem như bài tập.

    I.5b: Điện thoại và bàn phím số nói chung*

    Mật thư dựa trên điện thoại có 2 dạng chủ yếu:

    1. Thay thế kí tự bằng cách bấm phím.
    2. Dùng thứ tự phím để tạo thành chữ.

    Hai loại bàn phím số. Bàn phím số của điện thoại gồm các phím:

    2: abc
    3: def
    4: ghi
    5: jkl
    6: mno
    7: pqrs
    8: tuv
    9: wxyz
    0: khoảng trắng

    Có thể xem bảng trên như một bảng tọa độ như sau:

    + 2 3 4 5 6 7 8 9 0
    1 A D G J M P T W _
    2 B E H K N Q U X *
    3 C F I L O R V Y *
    4 * * * * * S * Z *

    Bàn phím số của máy tính:

    (Bật Numlock)
    NL
    7. 8 9
    4. 5 6
    1. 2 3
    0. 0 .

    (Tắt Numlock)
    NL
    ** /\ **
    ...|
    <- * ->
    ...|
    ** \/ **

    Dùng thứ tự phím để tạo thành nét chữ.

    VD:
    A: 742456269
    1 2 3
    4 5 6
    7 8 9

    B: 7412354987
    1 2 3
    4 5 6
    7 8 9

    1 2 3
    4 5 6
    7 8 9

    ...

    I.5c: Thay thế mã Morse
    Mã Morse ngoài việc được sử dụng trong truyền phát còn có thể được dùng trong mật thư. Có ba cách sử dụng:

    1. Đặt mã Morse ngay trong khóa.
    2. Tách mã Morse và thay thế bằng kí tự tương ứng.
    3. Thay "tích" và "tè" bằng kí hiệu trong NW.

    Trong khuôn khổ bài viết, chỉ đề cập đến cách 2 và 3.

    Tách mã Morse. Mỗi kí tự trong mã Morse gồm 1 -> 5 "tích"/"tè", có thể chia thành nhiều phần và thay bằng kí tự tương ứng với mỗi phần đó. Người giải sẽ tra bảng và ghép lại các phần đã tách với nhau để tra tiếp. Mỗi kí tự có thể có một hoặc nhiều cách tách khác nhau.

    Ví dụ: P = .--.
    Tách: . / -- / .
    -> EME
    Hoặc: .- / -.
    -> AN.
    Q = --.-
    Tách: --. / -
    -> GT
    Hoặc -- / .-
    -> MA.

    Thay thế "tích" - "tè". Khóa của mật thư dạng này thường có một cặp khái niệm đối nhau (núi - đồi, hoa - lá, chẵn - lẻ...) dùng để thay cho tích - tè trong Morse.

    Ví dụ:

    - Núi - đồi.
    NW:

    ./\../\..../\../\../\....../\...............
    /..\/..\__/..\/..\/..\__/\/..\/\__/\/\/\__/\ - AR.

    - Chẵn, lẻ.
    OTT: Chẵn dài, lẻ ngắn.
    NW: 834 5779 93 8 674 880 25 878 3357 31 129 9373 798 2252 8 - AR.

    - "Toán học".
    OTT: N=pq
    NW: qp^4 [1] pq+q p^3 2p p+q^2*p q+2p^2 q+pq q^2+p 2p+q 2pq qp pq+p^2 - AR.

    Phần dịch mật thư sẽ dành lại cho độc giả, xem như bài tập.

    I.5d: Văn bản tra

    Là dạng mã sử dụng một văn bản để làm khóa, ở đây gọi là văn bản tra. Văn bản tra có thể là 1 đoạn của 1 bài hát, bài thơ, văn hoặc cả một quyển sách... được quy ước trước hoặc được đặt ngay trong khóa. Có 2 cách sử dụng chính:

    1. Gán cho mỗi tiếng trong một đoạn của văn bản tra 1 chữ cái từ A đến Z.
    2. Thay thế mỗi chữ cái hoặc từ trong NW bằng vị trí xuất hiện của nó trong văn bản tra.

    Ngoài ra, để NW ngắn hơn, còn có thể phối hợp 2 cách trên.

    Khái niệm đơn vị chia. Nhiều chữ cái tạo thành một tiếng, nhiều tiếng tạo thành một dòng/câu, nhiều dòng/câu tạo thành một văn bản tra. Mỗi văn bản tra có thể được chia theo dòng, theo câu hoặc chia theo từng trang (sách...), gọi là đơn vị chia lớn nhất. Đối tượng được thay thế trong NW (từ hoặc chữ cái) được gọi là đơn vị chia nhỏ nhất. Do bản chất của dạng mã này cũng là một dạng tọa độ, nên đơn vị chia lớn nhất ở đây có thể xem như tương tự 1 bảng con và các đơn vị chia còn lại có thể xem như hàng/cột trong bảng tọa độ 3*3*3.

    VD:
    OTT: Nối vòng tay lớn.
    NW1: xa rừng ta mặt rừng - bao đất xa rừng mãi - biển núi rừng - AR.
    NW2: 2-3-1 1-7-2 3-8-2 4-6-1 2-5-3 / 1-8-2 2-6-1 2-10-2 1-5-2 4-3-1 / 5-4-1 3-4-2 4-7-4 4-8-1 4-2-2 /
    2-9-2 2-2-1 1-7-3 4-8-4 4-10-4 / 4-7-3 5-2-3 5-7-1 5-10-2 2-8-3 // AR.

    NW1: Đặt chữ cái A, B, C... Z vào mỗi từ trong lời bài hát:

    Rừng núi dang tay nối lại biển xa
    --A---B---C---D---E--F----G----H-
    Ta đi vòng tay lớn mãi để nối sơn hà
    -I--J---K---L---M---N--O--P----Q--R-
    Mặt đất bao la, anh em ta về
    -S---T---U--V---W---X--Y--Z-

    => BV: HAI SAU THANG BA.

    NW2: Đây là dạng Dòng - Tiếng - Chữ, với 2-3-1 ta tìm đến dòng 2, tiếng thứ 3, chữ thứ nhất của bài hát (N):

    1 Rừng núi dang tay nối lại biển xa
    2 Ta đi vòng tay lớn mãi để nối sơn hà
    3 Mặt đất bao la, anh em ta v
    4 Gặp nhau mừng như bão cát quay cuồng trời rộng
    5 Bàn tay ta nắm nối tròn một vòng Việt Nam

    (Kết quả tra 4 kí tự đầu của NW2)

    Vậy 2-3-1 1-7-2 3-8-2 4-6-1... sẽ trở thành VIEC...

    I.5e: Thực hành
    1/
    OTT: Một nửa Sự Thật không phải là Sự Thật.
    NW: 0, 6, 100/8, 15/6, 34/4 - 8, 19/2, 3, 39/6, 8 - 57/6, 0, 76/8, 0 - AR.

    2/
    OTT: Giơ tay với thử trời cao thấp
    Xoạc cẳng đo xem đất ngắn dài
    (Hồ Xuân Hương)
    NW: qv kf cf dkbb hklo - lk qe qqn bh uh - czt ldw uux bd - AR.

    3/
    OTT: Trốn tìm.
    NW: 95, 5, 105, 5, 75 - 70, 65, 105, 5, 100 - 90, 75, 45, 60, 5 - 45, 95, 5, 70, 35 - AR.
    4/
    OTT: Trong lòng lại bớt lại thêm
    Hai âm hòa hợp lại nên tiếng đồng
    NW: M+E, A+E, M+T, N+A, N+E / K-M, Z-N, O-M, O-T+E, 7-I / 4-H, 5-E, 4-I / AR.


    thegioitrinhtham.com
     
  2. yamamotoaoi

    yamamotoaoi Vanessaoith
    Staff Member Zone Moderator

    Joined:
    Oct 9, 2014
    Messages:
    1,110
    Likes Received:
    129
    #2 yamamotoaoi, Jun 17, 2017
    Last edited: Jun 17, 2017
    Một số điều nên biết khi viết truyện trinh thám
    [​IMG]

    [Nguồn: Thamtututoday]

    S. S. Van Dine là bút danh của Willard Huntington Wright (1888 – 1939), là nhà phê bình nghệ thuật và nhà văn Mĩ. Trong những năm 20 của thế kỉ trước, ông đã sáng tạo ra nhân vật thám tử Philo Vance, mà những cuộc điều tra nổi tiếng của nhân vật này đã được dựng thành phim và được đọc trên đài phát thanh. Ngoài những hoạt động của một nhà viết tiểu thuyết, Wright còn được biết đến với tư cách tham gia làm tuyển tập Những truyện trinh thám nổi tiếng trên thế giới (1928) (The World’s Great Detective Stories). Van Dine đã quan niệm: “Tiểu thuyết trinh thám là một dạng trò chơi trí tuệ. Hơn nữa, có thể nói, đó còn là một sự thử thách mang tính thể thao trong đó tác giả cần phải đọ sức một cách trung thực với độc giả”. Ông chính là người đã đề ra Hai mươi nguyên tắc để viết tiểu thuyết trinh thám, được in trong Tạp chí Mĩ. Dưới đây là những nguyên tắc đó.

    1. Độc giả và thám tử cần có cơ hôi ngang nhau trong việc giải quyết bí ẩn. Tất cả các manh mối phải được tuyên bố và miêu tả rõ ràng.

    2. Tác giả không có quyền sử dụng những mánh khóe và những mưu mô đối với độc giả khác hơn với những gì mà chính thủ phạm sử dụng đối với thám tử.

    3. Tiểu thuyết trinh thám thực sự cần phải được miễn mọi tình tiết về yêu đương. Đưa tình yêu vào đó, thực tế, sẽ làm xáo trộn cơ chế của vấn đề mang tính trí tuệ thuần túy.

    4. Bản thân thám tử, hoặc một trong số các điều tra viên chính thức, không bao giờ lại biến thành kẻ tội phạm. Đây là một trò lừa đảo lộ liễu rẻ tiền ngang với việc đề nghị một ai đó đổi một xu rách lấy một đồng năm đô la bằng vàng. Đó là những trò giả vờ vô giá trị.

    5. Thủ phạm cần phải được xác định thông qua hàng loạt những suy luận lôgic chứ không phải thông qua sự tình cờ, sự ngẫu nhiên hoặc qua sự thú tội tự phát.

    6. Tiểu thuyết trinh thám bắt buộc phải có một thám tử. Và một thám tử sẽ không phải là một thám tử nếu anh ta không phá án. Nhiệm vụ của anh ta là tập hợp các manh mối cuối cùng sẽ dẫn tới người đã tham gia vào hoạt động mờ ám trong chương đầu tiên của cuốn sách; và nếu thám tử không đưa ra được những kết luận của mình thông qua một sự phân tích những manh mối, anh ta sẽ chẳng thể giải quyết được khó khăn của anh ta hơn là một cậu học trò tìm được câu trả lời giấu đằng sau bài tập số học.

    7. Phải xuất hiện một thi thể trong một tiểu thuyết trinh thám, và thi thể đó là xác chết đã lâu [không còn manh mối] thì càng tốt. Bắt phải đọc đến ba trăm trang tiểu thuyết trinh thám mà không đưa ra một kẻ giết người nào là một đòi hỏi quá đáng đối với độc giả tiểu thuyết trinh thám. Dẫu sao, sự tiêu hao năng lượng của độc giả cũng cần phải được đền đáp.
    8. Vấn đề trinh thám lại phải được giải quyết với sự trợ giúp của các phương tiện hiện thực một cách nghiêm nhặt.


    9. Trong một cuốn tiểu thuyết trinh thám xứng đáng với cái tên gọi của nó, chỉ cần có duy nhất một viên thám tử. Tập hợp trí thông minh của ba hay bốn, hoặc đôi khi là một nhóm các thám tử để giải quyết một vấn đề, không chỉ làm phân tán mối quan tâm và phá vỡ sợi dây suy luận logic trực tiếp, mà còn là một sự lợi dụng độc giả. Nếu có hơn một thám tử, độc giả sẽ không biết ai là người cùng suy luận với anh ta. Điều đó giống như là việc bắt độc giả phải tham gia chạy một cuộc đua với một đội hình chạy tiếp sức.

    10. Kẻ phạm tội bao giờ cũng phải là một người đóng một vai trò ít hay nhiều quan trọng trong câu chuyện, nghĩa là một người nào đó mà độc giả đã biết và gây hứng thú cho họ. Phải mang chứa tội ác, một nhân vật mới được đưa vào hoặc đã đóng một vai trò trong câu chuyện mà lại hoàn toàn mờ nhạt, thì về phía tác giả, ở vào chương cuối, anh ta đã phải thừa nhận sự thiếu năng lực của mình trong việc đọ sức với độc giả.

    11. Tác giả không bao giờ được chọn kẻ thủ ác trong những người giúp việc, như thằng hầu, đứa đầy tớ, tay hồ lì, người đầu bếp hoặc đại loại thế. Có một lí lẽ bác bỏ ở đó về nguồn gốc, bởi đây là một giải pháp quá ư dễ dãi. Kẻ phạm tội cần phải là một ai đó đáng tầm.

    12. Chỉ cần có một kẻ phạm tội duy nhất trong đó thôi. Bất kể là có nhiều hung thủ tham gia tội ác. Dĩ nhiên, thủ phạm có thể có một sự giúp đỡ phụ trợ hoặc kẻ đồng loã nào đó; nhưng toàn bộ trách nhiệm phải được đặt lên một đôi vai: toàn bộ sự căm phẫn của độc giả phải được tập trung vào một tâm hồn đen tối duy nhất.

    13. Các xã hội đen, giới mafia chẳng hạn, không có chỗ trong tiểu thuyết trinh thám. Tác giả động đến đó là sẽ rơi vào lĩnh vực của tiểu thuyết phiêu lưu hoặc tiểu thuyết phản gián.

    14. Phương thức mà tội ác được thực hiện và các phương tiện dẫn dắt tới việc khám phá ra kẻ phạm tội phải có tính chất suy lí và khoa học. Điều đó có nghĩa là, giả khoa học và những thủ pháp có tính chất tư biện và tưởng tượng thuần tuý không được dung chứa trong tiểu thuyết trinh thám (roman policier). Một khi nhà văn bay bổng vào lĩnh vực của cái phóng túng hư tưởng, theo phong cách của Jules Verne, anh ta sẽ đi ra ngoài giới hạn của tiểu thuyết trinh thám để nhảy vào những miền đất của sự phiêu lưu chưa được khám phá.

    15. Sự thật của vụ việc phải luôn luôn rõ ràng, miễn là độc giả đủ khôn ngoan để nhìn thấy nó. Qua đó tôi muốn nói rằng nếu độc giả, sau khi biết được điều giải thích về tội ác, hẳn sẽ đọc lại cuốn sách, anh ta sẽ thấy rằng theo một nghĩa nào đó, giải pháp sờ sờ ra trước mặt anh ta, rằng tất cả các manh mối đều thực sự nhằm hướng tới tên tội phạm; và rằng, nếu anh ta thông minh như thám tử, bản thân anh ta sẽ có thể giải quyết được được bí ẩn mà chẳng cần phải đi tới tận chương cuối.

    Chính điều đó khiến độc giả thông minh do vậy thương giải quyết vấn đề mà chẳng cần nói lên lời nào. Qua đó tôi muốn nói rằng nếu độc giả đọc lại cuốn sách mà sự bí ẩn đã một lần được khám phá, thì anh ta sẽ thấy rằng, việc giải quyết ngay từ đầu đã quá rõ ràng, mọi dấu hiệu cho phép kết luận về nhân dạng của kẻ phạm tội và, nếu anh ta cũng tinh tế như chính thám tử, anh ta đã có thể nhìn thấu bí mật ngay mà không cần phải đọc đến tận chương cuối cùng.

    Sẽ không cần phải nói rằng điều đó xảy ra rất thường xuyên và tôi sẽ khẳng định rằng không thể giữ bí mật đến tận cùng và trước mọi độc giả giải pháp của một cuốn tiểu thuyết trinh thám hấp dẫn và trung thực đã được xây dựng. Sẽ luôn luôn có một số lượng nào đó độc giả cũng tỏ ra minh mẫn như nhà văn…. Chính ở đó, một cách rõ ràng, mà giá trị của Trò chơi tồn tại.

    16. Trong một cuốn tiểu thuyết trinh thám, không cần thiết phải có những trường đoạn miêu tả dài, Cũng như không cần phải có những sự vẽ vời những chi tiết phụ, chẳng cần những phân tích nhân vật được thực hiện một cách tinh tế, chẳng cần những bận tâm về “bầu khí quyển” cho câu chuyện.

    Những phương thức như vậy chẳng có vị trí đáng kể trong một bản ghi chép về tội ác và sư suy luận. Chúng sẽ làm chậm lại hành động và làm loãng sự chú ý, rẽ hướng độc giả khỏi mục đích chính gồm việc đặt ra một vấn đề, phân tích nó, tìm ra giải pháp thỏa mãn cho anh ta. Tất nhiên, có một vài miêu tả mà ta không loại bỏ được và nó cần thiết để định vị các nhân vật, thì chỉ nên tóm lược thôi, mục đích là để đạt được cái vẻ giống như thật của truyện kể.
    17. Một tên tội phạm chuyên nghiệp không nên gánh cái tội ác trong một truyện trinh thám. Những tội ác được thực hiện bởi những tên trộm hoặc bọn cướp là nơi giải quyết của các sở cảnh sát, không phải là nhiệm vụ của các tác giả và các thám tử nghiệp dư thông minh.


    Một tội ác thực sự hấp dẫn là một tội ác được thực hiện bởi một nhân vật cột trụ của một nhà thờ, hoặc một cô phụ được biết đến bởi các hoạt động từ thiện của bà ta. Những hành động xấu của bọn trộm cướp và của các băng đảng thuộc phạm vi của cảnh sát mà không phải là phạm vi của các tác giả và ít nhiều của các thám tử nghiệp dư tài ba.

    Những tội ác tương tự tạo ra sự vô vị thuộc đường phố của các sở cảnh sát, trong khi mà một tội ác đã phạm bởi một kẻ hay la cà ở nhà thờ hoặc bởi một bà già đã được biết đến vì lòng kính Chúa thương người, thì lại thực sự quyến rũ.

    18. Những gì được trình bày như một tội ác thì không thể, vào cuối cuốn tiểu thuyết, lại được phát lộ ra như một ngẫu nhiên hay một vụ tự tử. Kết thúc một cuộc điều tra dài bằng một cảm giác hụt hẫng là sự lừa bịp đối với độc giả trung thành và tốt bụng không thể tha thứ được.

    19. Nguyên nhân của tội ác cần phải luôn luôn tuyệt đối thuộc về cá nhân. Những âm mưu mang tính chất quốc tế và những mưu mô của nền chính trị lớn phải dành cho loại tiểu thuyết phản gián. Ngược lại, tiểu thuyết trinh thám cần phải được dẫn dắt bởi một phong cách, có thể nói là “thoải mái”. Cần phải phản ánh những kinh nghiệm và những mối bận tâm hằng ngày của độc giả, tất cả cho việc cống hiến một lối thoát nào đó cho những cảm hứng hoặc cho những mối xúc cảm bị dồn nén của họ.

    20.Cuối cùng (để cấp cho cái tín điều của tôi một con số chẵn hai mươi mục) tôi liệt kê ra đây bản danh sách các mẹo / thủ pháp mà các nhà văn viết truyện trinh thám tự trọng không nên vận dụng. Các thủ pháp này đã được sử dụng quá thường xuyên, và quá quen thuộc với những độc giả ưa thích thể loại truyện tội ác. Sử dụng chúng là thú nhận về sự thiếu khả năng và thiếu tính sáng tạo của nhà văn.

    a. Sự phát hiện ra nhân dạng của kẻ phạm tội trong việc so sánh đầu mẩu thuốc lá đã tìm thấy ở nơi xảy ra tội ác với đầu mẩu thuốc mà kẻ khả nghi hút;

    b. Tấn kịch mang tính chất thông linh giả trá mà theo đó, kẻ phạm tội, bị xâm chiếm bởi nỗi khiếp sợ, đã bị tố giác.

    c. Những dấu vân tay giả.

    d. Sự ngoại phạm được tạo ra theo cung cách của một kẻ nhu nhược.

    e. Chó không sủa, cũng chỉ ra rằng kẻ vào đó là một người thân quen.

    f. Kẻ phạm tội là anh em sinh đôi với kẻ bị tình nghi hoặc một người bà con giống với hắn khiến cho ở đây bị hiểu lầm.

    g. Chiếc xơ ranh tiêm và những giọt thuốc giết người.

    h. Món tiền hoa hồng trong vụ án mạng được đặt trong một căn phòng khoá kín, mà cảnh sát đã khám phá ra khi họ phá cửa được để vào bên trong.

    i. Sự liên tưởng về mặt từ ngữ liên hệ tới tội ác.

    j. Mật mã, hay là con chữ được mã hoá, cái cuối cùng sẽ được nhà thám tử khám phá.
     
  3. yamamotoaoi

    yamamotoaoi Vanessaoith
    Staff Member Zone Moderator

    Joined:
    Oct 9, 2014
    Messages:
    1,110
    Likes Received:
    129
    #3 yamamotoaoi, Jun 17, 2017
    Last edited: Jun 17, 2017
    7 MẸO ĐỂ VIẾT TRUYỆN TRINH THÁM

    [​IMG]

    Những câu chuyện giết người.

    Viết về tội ác quả thật là một loại quái vật khác hẳn, và tôi đã nhận ra điều đó trong quá trình viết cuốn “Desecration” (tạm dịch: “Giải thiêng” hoặc “Phản thần”) vào năm ngoái.

    Bí ẩn của những vụ án sát nhân cần các tình tiết rất phức tạp, bạn cần phải xây dựng các tuyến nhân vật đa dạng, những nhân vật mà đến lúc nào đó có thể chịu trách nhiệm, và bạn cần phải có một “vòng xoáy” (spin) chính để có thể nổi bật ở thể loại phổ biến này. Trong bài đăng hôm nay, tác giả trinh thám Luke Preston sẽ chia sẻ một số mẹo của mình.

    Nếu bạn muốn viết một cuốn tiểu thuyết trinh thám, tốt nhất là bạn nên chuẩn bị sẵn sàng cho một cuộc đối đầu. Sẽ có người ghét bạn và bạn chẳng thể làm được gì về điều đó.

    Họ sẽ ghét bạn vì giết chết những nhân vật mà họ yêu thích, họ sẽ “giảng đạo” cho bạn vì sử dụng những từ ngữ không hay và họ sẽ phẫn nộ với bạn khi bạn đưa họ đến với những nơi mà họ cảm thấy các niềm tin và giá trị của mình bị thách thức. Nếu bạn không thích vướng vào một cuộc đối đầu, vậy mời bạn viết về điều gì đó khác. Nhưng, nếu bạn thích để cho các khớp ngón tay của mình nhuốm máu, vậy thì bạn đã đến đúng nơi rồi đấy!

    Sáng tác là một việc khó khăn, và để tìm kiếm lối đi của bản thân thông qua ngôn từ thì phải cần cả một lượng thời gian khổng lồ. Sau đây là 7 mẹo mà tôi ước ai đó đã chỉ tôi vài năm trước khi tôi đặt bút sáng tác.

    (1) ĐỪNG NHÀM CHÁN

    Tội ác tồi tệ nhất mà một người viết văn có thể phạm phải đó là việc trở nên nhàm chán. Tôi thà ngồi tù nghiêm trọng cho việc sát nhân còn hơn là bị buộc tội nhàm chán. Nếu một cuốn tiểu thuyết trinh thám trở nên nhàm chán, sẽ có khả năng rất cao rằng nguyên nhân là do tác giả đã cảm thấy chán trong khi đang chấp bút tạo nên những ngôn từ gây nghiện. Một lời khuyên tồi tệ nhất mà tôi đã từng nghe, và nó luôn gây phiền phức mọi lúc như một câu thần chú 12 bước, đó là “Hãy viết những gì bạn biết”. Nó là điều vớ vẩn, đừng bao giờ viết những gì bạn biết, mà viết về những điều khiến bạn phấn khích ấy. Hãy làm điều đó và sự phấn khích ấy sẽ thể hiện trên trang truyện của bạn và kích thích độc giả.

    (2) LÀM NGƯỜI ĐỌC NGHẸT THỞ NGAY TỪ TRANG ĐẦU TIÊN VÀ ĐỪNG BAO GIỜ DỪNG VIỆC ĐÓ LẠI.

    Trong bất cứ câu chuyện nào, câu văn, đoạn văn, trang hoặc chương đầu có thể rất trọng yếu và sáng tác trinh thám cũng không ngoại lệ. Hãy bắt đầu câu chuyện như một cú nổ của súng ngắn lúc nửa đêm.

    Đây là một số dạng mở đầu đã có hiệu quả đối với tôi trong quá khứ.

    Mở đầu Hành động: Bắt đầu cuốn tiểu thuyết với tình cảnh hiểm nghèo về thể chất hoặc tinh thần của người anh hùng.

    Mở đầu Hồi tưởng: Bắt đầu với khoảnh khắc cao trào đâu đó trong câu chuyện sau này và hồi tưởng lại những sự việc dẫn đến nó.

    Mở đầu kiểu “Ngày đầu tiên đi làm”: Một cách tốt để giới thiệu thế giới cho độc giả là để họ khám phá thế giới ấy dưới cái nhìn của người anh hùng. Họ có thể, như tiêu đề gợi ý, là đang bắt đầu một công việc mới, hoặc họ có thể vừa chuyển đến thị trấn chẳng hạn.

    Mở đầu kiểu “Người hùng mỗi ngày”: Nhân vật chính của bạn đang tiếp tục những công việc như mọi ngày và một vài sự việc xảy ra dẫn đến việc bất chợt xoay chuyển họ theo một hướng đi khác.

    Hành động ngoại cảnh: Sự kiện hành động ngoại cảnh có thể là một vụ cướp, hoặc một vụ giết người, hay có thể là bất cứ vấn đề nào không liên quan đến người anh hùng của truyện.

    Đừng bao giờ bắt đầu với việc miêu tả thời tiết. Trong một cuốn tiểu thuyết trinh thám, nếu bạn mở đầu bằng việc miêu tả thời tiết thì tôi sẽ cho rằng thời tiết đã giết chết ai đó.

    (3) CÓ MỘT VỤ ÁN

    Nếu bạn đang viết một cuốn tiểu thuyết trinh thám về những điều xấu xa và tồi tệ, thì việc lấy nguồn gốc từ sự điên loạn ẩn sâu trong tâm hồn cần được giải phóng. Một cuốn tiểu thuyết trinh thám mà không có một vụ án tội ác thì không được gọi là tiểu thuyết trinh thám, và một kẻ sát nhân đơn giản tầm thường sẽ không bao giờ có hiệu quả. Hãy cho nhân vật phản diện của bạn những lý do độc đáo và chồng chéo mâu thuẫn về việc vì sao kẻ đó trở thành tội phạm. Kẻ phản diện trong một câu chuyện thường sẽ chẳng bao giờ biết mình là kẻ xấu. Trong câu chuyện của hắn, hắn là người tốt đại diện cho chính nghĩa. Nhân vật chính diện của bạn chỉ càng mạnh mẽ khi thế lực đối đập phản diện mà anh ta đối đầu càng lớn. Hãy đặt họ trong tình thế đối đầu vì điều gì đó.

    *Ghi chú: Một kẻ sát nhân không bao giờ giết người bởi vì hắn điên loạn, mà luôn luôn sẽ có một lý do đằng sau.

    (4) ĐỪNG VIẾT NHỮNG NHÂN VẬT DỄ MẾN

    Không một ai thích những nhân vật dễ mến cả. Họ có thể nghĩ rằng mình thích và có thể sẽ tin là mình thích, nhưng thực chất là không. Điều mà họ thích là những nhân vật có tính cách thú vị. Những nhân vật mà có thể mắc sai lầm, cũng có khi suy nghĩ nhanh nhẹn và táo bạo, những nhân vật có khuyết điểm, chứ không phải là những nhân vật hoàn hảo dễ mến. Dễ mến là một điều nhàm chán. Tiểu thuyết trinh thám luôn ngập tràn những kẻ khốn nạn, những người đàn ông hoang dã, những người phụ nữ khả nghi và những lũ khốn hai mang lừa dối. Câu hỏi được đặt ra về bản chất của những nhân vật hiện diện trong mỗi trang của một cuốn tiểu thuyết trinh thám đó là, làm thế nào để bạn có thể nắm bắt được trái tim của những độc giả và giữ họ tiếp tục lật tiếp những trang tiếp theo?

    Câu trả lời chính là sự đồng cảm.

    Sự đồng cảm khác với việc yêu mến. Kể cả những kẻ phạm tội phản bộ lớn nhất, nghiêm trọng nhất cũng sẽ cảm thấy kinh tởm và khinh thường một kẻ giết người hàng loạt. Nhưng chúng ta lại thích thú hơn bao giờ hết khi được đọc từng trang từng trang một về một kẻ sát nhân hàng loạt nào đó đang lang thang lùng sục khắp các ngõ ngách thành phố Florida, tìm kiếm thú vui từ việc giết người và làm những việc như nhân vật Dexter đã làm trong các sê-ri của Jeff Lindsey. Người đọc không lật từng trang viết vì họ thích Dexter hay tin vào nguyên nhân của hắn. Họ làm điều đó vì họ đồng cảm với Dexter – hắn chỉ là một người đàn ông mong muốn được hòa nhập.

    Sau đây là một số cách để tạo ra sự đồng cảm.
    1. Tạo nên người hùng vui tính
    2. Để cho nhân vật người hùng trở thành một nạn nhân
    3. Đặt người anh hùng trong một tình huống khó xử, tiến thoái lưỡng nan và buộc phải lựa chọn
    4. Thể hiện hình tượng người anh hùng là một người có những kỹ năng khá cao.
    5. Cho thấy lòng vị tha của người anh hùng
    (5) PHẦN KẾT “TÁT THẲNG VÀO MẶT”

    Kết thúc một kẻ giết người cũng quan trọng như việc mở đầu cho kẻ giết người ấy. Người đọc đã đủ tốt để mua tiểu thuyết của bạn và đọc chúng xuyên suốt đến những trang cuối cùng, vì vậy hãy cho họ một kết thúc mà có thể đánh gục họ (và khiến họ phải lập tức ra ngoài để tìm mua cuốn tiểu thuyết tiếp theo của bạn).

    Những kết thúc tuyệt vời là cho người đọc những gì mà họ muốn, nhưng không theo cách mà họ mong đợi. Đọc thì có vẻ đơn giản nhưng thực chất không phải vậy. Hãy nghĩ đến một phần kết có cấu trúc như một sự thu nhỏ của kịch bản 3 phần gồm giai đoạn những nút thắt và cao trào, giai đoạn đảo ngược tình thế, giai đoạn thất bại và lập ra kế hoạch mới. Và khi câu chuyện của bạn đã hết, hãy kết thúc nó! Người đàn ông có một chiếc xe khá ngầu và nói những đoạn hội thoại 3 dòng có vẻ sâu sắc ở đoạn mở dầu câu chuyện: mặc kệ việc xuống địa ngục của anh ta – chúng tôi không quan tâm đến việc anh ta kết thúc ở đâu và như thế nào. Như ông hoàng của phim “B”, Roger Corman từng nói: “khi con quái vật chết, bộ phim cũng kết thúc”.

    (6) HÃY ĐỂ CHO BẢN THÂN DÍNH VÀO MỘT CUỘC ẨU ĐẢ

    Ra khỏi văn phòng, bước xuống đường và bắt đầu một cuộc ẩu đả. Tôi không quan tâm là với ai. Cũng không quan tâm vì cái gì. Bạn không thể hi vọng trở thành một nhà văn mà không dấn thân vào thế giới thực và để cho những khớp ngón tay cũng như trái tim bạn trầy xước. Đừng trốn bên trong thế giới mà hãy trở thành một phần của thế giới, trải nghiệm những thất vọng cũng như những khải hoàn, sự giận dữ và cả những sự đau lòng tuyệt vọng của nó, và rồi trút hết lên những trang viết.

    (7) CÂU CHUYỆN CỦA BẠN NÓI VỀ CÁI QUÁI GÌ?

    Ừ thì, câu chuyện của bạn nói về cái quái gì trong đấy vậy?

    Đây là câu hỏi mà bạn cần phải tự vấn mỗi ngày khi bạn viết chữ này tiếp nối chữ khác cho đến những con chữ cuối cùng. Tôi không nói đến ý tưởng khái niệm mà bạn thường nói như tiểu thuyết của bạn về một gã nào đó, từ một nơi nào đó, đã làm cái này và rồi cái kia xảy ra. Cái tôi muốn nói ở đây là, câu chuyện của bạn nói về cái gì ở ý nghĩa sâu xa hơn. Nó có ý nghĩa như thế nào với bạn? Bạn đang nói gì về thế giới hiện tại đằng sau câu chuyện của bạn? Thật sự thì nó nói về cái quái gì?

    Chính động lực ẩn giấu, chôn sâu trong tiềm thức của bạn là điều thúc đẩy bạn thức dậy sớm và đi ngủ khuya chỉ để trút hết những con chữ vào câu chuyện. Một số trong chúng ta viết về sự phẫn nộ, và một số khác lại viết về nỗi buồn. Cách duy nhất để khẳng định rõ bạn đang thật sự viết về cái gì là việc ngồi tại một vị trí quen thuộc với cây bút trong tay và bắt đầu viết ra một danh sách:

    10 điều khiến bạn giận dữ
    10 điều khiến bạn buồn


    Hãy nghĩ về những điều gần gũi với bạn nhất và đưa những đặc điểm ấy vào nhân vật chính của bạn. Bruce Wayne không phẫn nộ vì bố mẹ mình bị giết (mặc dù tôi khá chắc rằng điều đó làm anh ta khó chịu), điều khiến anh ta nổi giận chính là việc con người không chịu trách nhiệm cho những hành động của bản thân. Vì lí do đó, anh ta trở thành một anh hùng giấu mặt ngoài vòng pháp luật (vigilante). Đó là điều thật sự trong trái tim của Batman. Và cho dù bạn biết về nó hay không, thì vẫn luôn có điều gì đó trong tận sâu thẳm trái tim câu chuyện của bạn và nếu bạn có thể định nghĩa được nó, bạn có thể phát triển cũng như khám phá nó với quyền kiểm soát trong tay.

    Những điều tôi đã nói từ đầu đến bây giờ chỉ là một số ít điều đã giúp đỡ tôi qua những năm tham gia vào “trận chiến ngôn từ”, hãy lấy những điều gì bạn có thể lấy được và loại bỏ những gì bạn sẽ loại bỏ. Ngôn từ đến với mỗi người theo cách khác nhau. Đôi khi nhanh, đôi khi chậm, nhưng cũng có khi sẽ chẳng bao giờ đến. Trong những thời điểm đen tối ấy và giữa những trang giấy trống rỗng, hãy luôn nhớ rằng nếu bạn chờ đợi, và nếu bạn kiên nhẫn, những con chữ sẽ luôn luôn tìm đến bạn.

    Luke Preston dành phần lớn khoảng thời gian những năm 20 của mình để sống như một nhà văn tự do, một điều tra viên tư và nghe nhạc rock ‘n roll. Anh ta là tác giả của cuốn “Tom Bishop Rampages”, “Dark City Blue” và phần tiếp theo “Out of Exile” mà bạn có thể tìm thấy ở đây.

    Văn của Luke ảnh hưởng bởi AC/DC và Johnny Cash hơn là bởi Richard Stark và Raymond Chandler. Anh có bằng Thạc sĩ ngành Biên kịch của trường Cao đẳng nghệ thuật Victorian và không hề có ý định chuyển đến một căn lều ở một nơi đồng không chẳng ai biết đến. Anh ta thích hệ thống giao thông tệ hại, những hàng xóm ồn ào, bia rẻ tiền, những quán bar ồn ào và đã từng vài lần biết đến về việc hú dưới ánh trăng. Thành quả của Luke được công nhận bởi Giải thưởng The Inside Film (The Inside Film Awards), giải MTV và Giải ATOM (The ATOM Awards).

    Lan Quyên dịch.
     

Share This Page