[Tài liệu] Một số tư liệu viết cổ trang Việt Nam

Discussion in 'Tủ sách' started by yamamotoaoi, Jun 17, 2017.

  1. yamamotoaoi

    yamamotoaoi Vanessaoith
    Staff Member Zone Moderator

    Joined:
    Oct 9, 2014
    Messages:
    1,110
    Likes Received:
    129
    #1 yamamotoaoi, Jun 17, 2017
    Last edited: Jun 17, 2017
    Cách gọi tên trong hoàng tộc Việt Nam

    [Nguồn: kienthuc.net]​

    - Về cách gọi tên trong hoàng tộc Việt Nam, nước ta chịu ảnh hưởng của các triều vua Trung Hoa, viết hoa chữ cái đầu.

    Cha vua nếu chưa từng làm vua gọi là Quốc lão; nếu đã từng làm vua rồi truyền ngôi cho con gọi là Thái thượng hoàng. Mẹ vua nếu chồng chưa từng làm vua: Quốc mẫu; nếu chồng đã từng làm vua: Thái hậu.

    Vua: Hoàng thượng. Vua của đế quốc (thống trị các nước chư hầu): Hoàng đế. Vợ vua: Hoàng hậu hoặc Hoàng hậu nương nương.

    Anh trai vua: Hoàng huynh. Chị gái vua: Hoàng tỷ. Em trai vua: Hoàng đệ. Em gái vua: Hoàng muội.

    Bác vua: Hoàng bá. Chú vua: Hoàng thúc. Cậu vua: Quốc cữu. Cha vợ vua: Quốc trượng.

    Con trai vua: Hoàng tử; nếu được chỉ định sẽ lên ngôi: Đông cung Thái tử hoặc Thái tử. Vợ Hoàng tử: Hoàng tức. Vợ Đông cung Thái tử: Hoàng phi. Con gái vua: Công chúa. Con rể vua: Phò mã.

    Con trai trưởng vua chư hầu: Thế tử. Con gái vua chư hầu: Quận chúa. Chồng quận chúa: Quận mã.

    Trong xưng hô thì không viết hoa, như dưới đây:

    Vua tự xưng quả nhân (dùng cho tước nào cũng được); trẫm (chỉ dùng cho Hoàng đế hoặc Vương); cô gia (chỉ dùng cho Vương trở xuống).

    Vua gọi các quần thần: chư khanh, chúng khanh; gọi cận thần (được sủng ái): ái khanh; gọi vợ (được sủng ái): ái phi; gọi vua chư hầu: hiền hầu.

    Vua, Hoàng hậu gọi con (khi còn nhỏ): hoàng nhi. Các con tự xưng với vua cha: nhi thần. Các con gọi vua cha: phụ hoàng. Các con vua gọi mẹ: mẫu hậu.

    Các thê thiếp (bao gồm cả vợ) khi nói chuyện với vua xưng: thần thiếp. Hoàng thái hậu nói chuyện với các quan xưng là: ai gia.

    Các quan tâu vua: bệ hạ, thánh thượng. Các quan tự xưng khi nói chuyện với vua: hạ thần; khi nói chuyện với quan to hơn (về phẩm hàm): hạ quan; khi nói chuyện người dân: bản quan.

    Các quan thái giám khi nói chuyện với vua, hoàng hậu xưng là: nô tài. Cung nữ chuyên phục dịch xưng là: nô tì.

    Người dân gọi quan là đại nhân, khi nói chuyện với quan xưng là: thảo dân.

    Người làm các việc vặt ở cửa quan như chạy giấy, dọn dẹp, đưa thư,... gọi là nha dịch/ nha lại/ sai nha.

    Nhà quyền quý, con trai: công tử; con gái: tiểu thư. Đầy tớ các gia đình quyền quý gọi ông chủ: lão gia; gọi bà chủ: phu nhân; gọi con trai chủ: thiếu gia; tự xưng khi nói chuyện với bề trên: tiểu nhân.

    Đứa con trai nhỏ theo hầu những người quyền quý thời phong kiến: tiểu đồng.

    Ngoài ra, đối với các quan còn có kiểu thêm họ vào trước chức tước, thành tên gọi. Ví dụ: Quách công công, Lý tổng quản, Lưu hoàng thúc...

    * Giữa hai cách viết “Ôm rơm nặng bụng” và “Ôm rơm rặm bụng”, xin cho biết cách viết nào đúng? (Mỹ Hà, Liên Chiểu, Đà Nẵng).

    - “Ôm rơm rặm bụng” là cách viết/ nói đúng. Về từ rặm, Từ điển tiếng Việt giải thích: “Hơi chói và khó chịu như có cái gì đâm khẽ vào da: Quạt thóc xong thấy rặm người; Rặm mắt”.

    Về nghĩa của thành ngữ “Ôm rơm rặm bụng” từ điển giảng: (Khẩu ngữ) ví việc làm không đâu, không phải việc của mình nhưng cứ làm, nên không những không mang lại lợi ích mà còn tự gây vất vả, phiền phức cho mình.
     
    Hoạt Lịch Sam likes this.
  2. yamamotoaoi

    yamamotoaoi Vanessaoith
    Staff Member Zone Moderator

    Joined:
    Oct 9, 2014
    Messages:
    1,110
    Likes Received:
    129
    Cách xưng hô của người Việt xưa

    [Nguồn: Ivy_Nguyen - Gác sách]

    Xin được trích dẫn bài viết của học giả An Chi mà mình rất thích:


    Học giả An Chi:
    Bạn cho rằng, “thời đó (đầu đời Lý) chúng ta hoàn toàn dùng chữ Hán”. Thực ra thì không phải như thế vì, nói chung, trong suốt thời kỳ phong kiến tự chủ, ta chỉ sử dụng chữ Hán làm quốc gia văn tự, nói rõ ra là chỉ dùng nó trên văn kiện và trong sách vở mà thôi. Dân ta vẫn nói tiếng Việt với nhau; mà vua quan trong triều đình cũng thế. Nhưng do ảnh hưởng của nhiều thế kỷ bị người Tàu cai trị nên từ vựng của tiếng Việt đã chứa đựng nhiều yếu tố gốc Hán, trong đó có gần như hầu hết những từ chỉ quan hệ thân tộc, như chúng tôi đã chứng minh trong bài “Từ nguyên của những từ chỉ quan hệ thân tộc”, trên Năng lượng Mới số 70 (11/11/2011). Những từ này đã có mặt từ lâu trong từ vựng của tiếng Việt, như có thể thấy trong “Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa” (khoảng thế kỷ XVII). Trong tác phẩm này, “Nhân luân bộ đệ tam” là chương thứ ba, đã dùng nhiều từ quen thuộc mà chúng tôi đã nêu để giảng (đối dịch) các danh từ chỉ quan hệ thân tộc và xã hội bằng tiếng Hán (Xin x. bản phiên âm và chú giải của Trần Xuân Ngọc Lan, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội,1985, tr.90-98).

    [​IMG]


    Cảnh trong phim "Huyền sử Thiên đô"

    Trong tiếng Việt, nhiều từ chỉ quan hệ thân tộc hoặc xã hội và cả một số danh từ chỉ người, lại được dùng làm từ xưng hô, mà một số tác giả gọi là đại từ nhân xưng, như: ông, bà, bố, mẹ, cô, cậu, dì, thím, v.v… Chúng tôi cho rằng, trong sinh hoạt hằng ngày, dân ta cũng xưng hô với nhau bằng những từ thông thường trên đây. Nhưng trước tiên, xin lưu ý bạn và bạn đọc rằng, ta cần phân biệt từ chỉ quan hệ thân tộc và từ dùng để xưng hô. Đây là hai khái niệm riêng biệt, mặc dù từ xưng hô vốn là từ chỉ quan hệ thân tộc. Vì không phân biệt được hai khái niệm này nên có người đưa hàng loạt từ, ngữ chỉ quan hệ thân tộc ra mà gọi đó là “cách xưng hô thời xưa”, như DevilChild trên trang tukhuc.wordpress.com ngày 11/12/2012:

    “(…) Ông nội/ngoại = gia gia; ông nội = nội tổ; bà nội = nội tổ mẫu; ông ngoại = ngoại tổ; bà ngoại = ngoại tổ mẫu; cha = phụ thân; mẹ = mẫu thân; anh trai kết nghĩa = nghĩa huynh; em trai kết nghĩa = nghĩa đệ; chị gái kết nghĩa = nghĩa tỷ; em gái kết nghĩa = nghĩa muội; cha nuôi = nghĩa phụ; mẹ nuôi = nghĩa mẫu; anh họ = biểu ca; chị họ = biểu tỷ; em trai họ = biểu đệ (…)”.

    Những từ, ngữ trên đây thực chất là một bảng từ vựng chỉ quan hệ thân tộc bằng tiếng Hán chứ thực ra thì, nói chung, những “nghĩa huynh”, “biểu ca”, “nghĩa tỷ”, “biểu tỷ”, v.v... do DevilChild đưa ra cũng chỉ là những yếu tố dùng trong văn bản bằng Hán văn Việt Nam chứ chẳng phải là những từ, ngữ quen thuộc dùng trong tiếng Việt hằng ngày của dân chúng. Dân chúng thì xưng hô với nhau giản dị và tự nhiên, chẳng hạn giữa vợ chồng, thì chồng có thể gọi vợ là “mình”, “bà nó”, “mẹ nó”, “bu nó”, “bủ nó”, “bầm nó”, “má nó”, “mạ nó”, “mợ nó”. Vợ có thể gọi chồng là “mình”, “ông nó”, “bố nó”, “ba nó”, “cha nó”, “cậu nó”. Còn giữa trai, gái thì “anh” và “em”:

    - “Hôm qua tát nước đầu đình,

    Bỏ quên cái áo trên cành hoa sen.

    Em được thì cho anh xin

    Hay là em để làm tin trong nhà…”.

    - “Trèo lên cây bưởi hái hoa,

    Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân.

    Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc;

    Em đã có chồng, anh tiếc lắm thay...”.

    - “Em như cục cứt trôi sông

    Anh như con chó ngồi trông trên bờ”.

    Đấy, “anh” và “em”; thế thôi. Khách sáo và dè dặt hơn một tí thì “mình” với “ta”:

    - “Mình nói dối ta mình hãy còn son,

    Ta đi qua ngõ thấy con mình bò.

    Con mình những trấu cùng tro,

    Ta đi xách nước tắm cho con mình”.

    - “Mình về mình có nhớ ta.

    Ta về ta nhớ hàm răng mình cười”.

    Trang trọng và thơ mộng hơn thì “chàng” và “nàng”, “thiếp”:

    - “Nàng về nuôi cái cùng con

    Để anh đi trẩy nước non Cao Bằng”.

    - “Một mai thiếp có xa chàng

    Đôi bông thiếp trả, con chàng thiếp xin”.

    Ngay cả văn nhân, thi sĩ cũng xưng hô đúng với tinh thần của tiếng Việt, chẳng hạn Dương Khuê trong bài hát nói “Hồng Hồng Tuyết Tuyết”. Ở hai câu Hán văn trong phần “Nói” thì cụ già Dương dùng từ “quân” để chỉ người con gái và tự xưng là “ngã”:

    - “Ngã lãng du thời quân thượng thiếu,

    Quân kim hứa giá ngã thành ông”.

    Nhưng ở phần “Mưỡu” “toàn Việt” thì Dương Khuê tự xưng là “ông” và gọi thẳng tên của cô đầu là “Tuyết”:

    “Ngày xưa Tuyết muốn lấy ông

    Ông chê Tuyết bé, Tuyết không biết gì

    Bây giờ Tuyết đã đến thì

    Ông muốn lấy Tuyết, Tuyết chê ông già”.

    Bằng hữu với nhau cũng xưng hô kiểu Việt Nam thuần túy trong văn thơ. Khi Dương Khuê qua đời, Nguyễn Khuyến khóc:

    “Kể tuổi tôi còn hơn tuổi bác,

    Tôi lại đau trước bác mấy ngày;

    Làm sao bác vội về ngay,

    Chợt nghe, tôi bỗng chân tay rụng rời”.

    Nhưng điển hình thì có lẽ phải là từ xưng hô và từ chỉ quan hệ thân tộc trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du, tại đây “cha” được dùng 12 lần, “mẹ” 6 lần, “chị” 13 lần, “em” 14 lần, “cậu” 1 lần, “ông” 15 lần, “bà” 8 lần, danh ngữ đẳng lập “ông bà” 4 lần, danh ngữ “mẹ cha” 2 lần, danh ngữ “chị em” 3 lần, v.v... Cách dùng từ “phi Hán ngữ tính” này đã không mảy may làm giảm giá trị của “Truyện Kiều”. Ngược lại, hiện tượng này cho thấy sức sống mãnh liệt của tiếng Việt bên cạnh một ngôn ngữ “đại gia” là tiếng Hán, mặc dù bản thân nó vẫn thu nhận nhiều từ, ngữ của thứ tiếng này.

    Ngay cả khi chuyển cách xưng hô của người Tàu, giữa anh em với nhau, sang tiếng Việt, một số dịch giả cũng giữ đúng tinh thần của tiếng mẹ đẻ mà dùng “em”, “tôi”, v.v…, chứ không dùng “huynh”, “đệ”. Chắc là nhiều bạn đã biết đến “Tam quốc diễn nghĩa”, trong đó có ba anh em kết nghĩa là Lưu Huyền Đức, Quan Công và Trương Phi. Xin đọc mấy câu đối đáp sau đây giữa họ với nhau, khi Trương Phi nổi nóng muốn giết Đổng Trác:

    “Huyền Đức, Quan Công vội ngăn mà rằng:

    - Không nên, hắn là quan của triều đình, em chớ nên tự tiện giết hắn!

    Phi nói:

    - Nếu không giết nó, mà lại ở đây làm đầy tớ cho nó sai khiến thì tôi không thể chịu được”.

    Huyền Đức và Quan Công gọi Trương Phi là “em” còn Trương Phi thì tự xưng là “tôi”. Mấy câu trên đây nằm trong bản dịch của Phan Kế Bính do Bùi Kỷ hiệu đính, rồi lại do Lê Huy Tiêu và Lê Đức Niệm sửa chữa (tập 1, NXB Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp, Hà Nội, 1988, tr.47).

    Cứ như đã biện luận ở trên thì ta có thể khẳng định rằng, về nguyên tắc, việc xưng hô với nhau bằng “ông - tôi”, “anh - em”, v.v…, trong phim “Huyền sử Thiên đô” cũng không phải là chuyện không thể chấp nhận được.
     
    Hoạt Lịch Sam likes this.
  3. yamamotoaoi

    yamamotoaoi Vanessaoith
    Staff Member Zone Moderator

    Joined:
    Oct 9, 2014
    Messages:
    1,110
    Likes Received:
    129
    Một số tư liệu cho trang phục cổ Việt

    1. [Nguồn: Bí Bứt Bông]

    “Đi tìm trang phục Việt” là một bộ phim tài liệu dài 24 tập do hãng phim TFS Đài truyền hình TP.HCM sản xuất.

    24 tập phim lần lượt giở từng trang sử từ thời vua Hùng đến thời đại ngày nay. Mỗi thời kỳ, mỗi dạng trang phục là câu chuyện hấp dẫn, dần vén màn bí ẩn về nét văn minh, văn hóa của người Việt qua phác họa cơ bản những bộ trang phục sau này được đoàn phim phục dựng. Đoàn đã phục hiện được 32 bộ trang phục cổ tiêu biểu cho các thời kỳ.

    Tài liệu, hiện vật về trang phục các thời đại phong kiến khá hiếm hoi và sơ sài, nên đoàn làm phim đã phải tham khảo thêm các tác phẩm nghệ thuật tạo hình (các di vật): Tượng, tượng phật, phù điêu, trống đồng, tranh vẽ cổ… khai thác chủ yếu ở các Đền, Chùa, Bảo tàng, một số tư liệu, hiện vật sưu tầm khảo cổ… trong và ngoài nước.




    2. [Nguồn: suvietvn.net]



    [​IMG]

    Trang phục phụ nữ Việt Nam từ thời Đông Sơn, thời Lý, Trần, Hậu Lê cho đến nay [Artist: Vietnam Ancient]

    [​IMG]

    Trang phục Việt Nam từ thời Lý đến thời Nguyễn [Artist: N.Duong]
    [​IMG]


    Trang phục phụ nữ thời Hậu Lê [Artist: Nancy Duong]

     
    Hoạt Lịch Sam likes this.
  4. yamamotoaoi

    yamamotoaoi Vanessaoith
    Staff Member Zone Moderator

    Joined:
    Oct 9, 2014
    Messages:
    1,110
    Likes Received:
    129
    3. [Nguồn: Nancy Dương]

    Đây là một phần phát triển đồng hành với phần tiến hóa thời trang. Tôi đã tìm hiểu kỹ kiểu tóc và mũ đã thay đổi như thế nào trong suốt quá trình lịch sử Việt Nam. Phải thừa nhận rằng tôi đã khá ngạc nhiên vì những gì tôi đã tìm thấy. Thông qua những hình ảnh, tranh vẽ, điêu khắc mà tôi đã sưu tập, biên soạn và cuối cùng quyết định vẽ khoảng 100 kiểu mũ/kiểu tóc (hoàn thành nhiều hơn một chút …) tôi có thể có thêm các bản vẽ nếu có bằng chứng khảo cổ học mới. Các tài liệu tham khảo tại đây: My pinterest, Troy’s Fotki gallery, Cornell University Library’s Southeast Asia Visions, và tài liệu “Đi Tìm Trang Phục Việt”.

    [​IMG]


    Để đảm bảo độ chính xác, tôi đã giữ lại tên lịch sử và cách viết như chú thích gốc.

    Ghi chú

    Từ Christoforo Borri’s account of Cochinchina từ 1618-1622 (triều Lê):
    Phụ nữ thường đội 5->6 lớp vải trên đầu với các màu sắc khác nhau. Họ không muốn có bất kỳ bộ phận nào của cơ thể lộ ra và sẽ phải chịu đựng cái nóng. Mái tóc được nuôi dài, chảy trên vai và thậm chí có thể chạm mặt đất. Mái tóc dài được coi là xinh đẹp. Phụ nữ thường đội mũ rộng vành để che khuất khuôn mặt của mình và làm cho họ không thể nhìn thấy ba hay bốn bước phía trước. Tùy thuộc vào hoàn cảnh của mỗi người, mũ của họ có thể được trang điểm cùng với với lụa và vàng. (Trang 50)

    [​IMG]


    Đàn ông cũng mặc 5-6 lớp quần áo bằng lụa tốt có màu khác nhau. Tay áo thì dài và rộng, các lớp từ dây lưng trở xuống được cắt bớt và lởm chởm. Với tất cả các màu sắc pha trộn với nhau tạo ra một hiệu ứng tương tự như của một con công khoe các phần màu sắc lông vũ của mình. Những người đàn ông cũng có tóc dài đến gót chân. Giống như phụ nữ, họ cũng đội mũ rộng vành. Những người đàn ông có bộ râu là rất hiếm và những người này không cạo nó. Người đàn ông quý tộc cho phép các móng tay của họ mọc dài như là một dấu hiệu để phân biệt với tầng lớp lao động. (Hình 52)

    [​IMG]


    Từ Views of Seventeenth-Century Vietnam: Christoforo Borri on Cochinchina and Samuel Baron on Tonkin

    Đông Dương có trang phục với màu sắc giống Trung Quốc, có nghĩa là, khunh hướng giống màu ô liu: Ý của tôi là những người gần nhất biển, đối với những người ở trong đất liền, xa như Tonchin, người có nước da trắng như người châu Âu. Hình dạng khuôn mặt của họ rất giống người Trung Quốc, mũi tẹt, đôi mắt nhỏ, nhưng có tầm vóc trung bình, không quá nhỏ như người Nhật, cũng không quá cao như người Trung Quốc. Tuy nhiên, họ mạnh mẽ hơn và tích cực hơn cả hai, dũng cảm hơn người Trung Quốc, nhưng thua kém người Nhật một thứ, đó là coi nhẹ tính mạng trong nguy hiểm và những trận đánh; người Nhật dường như không sợ hãi cái chết “(Trang 113).
    [​IMG]


    “Nếu người nam chết, thường mặc mười hai áo khoác tốt nhất của mình, nếu một người phụ nữ chết, thì chỉ có chín.” (Pg 265)

    Từ Tạp chí Journal of an Embassy to the Courts of Siam and Cochin-China), được xuất bản năm 1830 của John Crawfurd:

    “Cả hai giới ăn mặc gần như giống nhau hoàn toàn. Đối với phần dưới của cơ thể, bao gồm một cặp ống quần rộng phùng phình, được cố định bởi thắt lưng bằng một khăn sạt. Phần chính của trang phục bao gồm hai hoặc nhiều áo dài rộng, dài xuống đến nửa đùi. Đặc điểm đó, giống với những người phương Đông khác là thống nhất và không thay đổi, Có tà áo vắt về phía bên phải, và được cố định bằng năm cái nút và nhiều khâu sắt. Tay áo rất rộng, và với những người không phải lao động, họ lòng thòng tới chân, hoặc thậm chí tới chân và quá một nửa chân, vượt quá đầu ngón tay, Còn cách ăn mặc cấp thấp, vì cần thiết, mặc đồ ngắn hơn “(trang 277).
    [​IMG]


    “Với phụ nữ, váy yếm bên trong dài đến dưới đầu gối, và váy bên ngoài dài tới mắt cá chân.” (Trang 278)

    “Tóc của người đứng đầu được để dài, và đưa lên thành một nút ở phía sau đầu, giống người Trung Quốc làm trước khi trang phục không hợp lệ đã bị áp đặt lên người Tartar. Cả hai giới đều đội khăn xếp, được đặt lên bởi bằng sự khéo tay”(Trang 278).
    [​IMG]


    “Những người ở tầng lớp dưới, chỉ mặc quần áo, hiếm khi đội những chiếc khăn này lên đầu.” (Trang 278) “Khi ở ngoài, cả hai giới đều mặc mũ rơm màu véc ni, nhỏ hơn chút ít so với đường kính hai bàn chân, buộc dưới cằm. Điều này, đôi khi là một trong các hình thức lòng chảo đảo ngược, và những người khác giống như một ổ bánh đường, tuy nhiên hơi kỳ quái, nó bảo vệ tốt, chống lại ánh nắng mặt trời và mưa “(Trang 278).
    [​IMG]


    “Các nguyên liệu của trang phục bao gồm tơ tằm hoặc bông, được sử dụng nhiều hơn bất kỳ quốc gia nào khác mà tôi thấy. Váy yếm bên trong là bông sản xuất trong nước, luôn luôn chưa đượctẩy trắng, nghĩa là, nó không phải là một khăn tay bằng lanh trắng ở vương quốc. Tà bên ngoài và áo choàng, đối với các cấp bậc cao hơn trong xã hội, thì luôn luôn là bằng lụa, hoặc gạc hoa, và sau này thường là do Trung Quốc sản xuất. Các ống quần thì tất cả các tầng lớp hoặc là bằng lụa, hoặc vải trong nước “(Trang 278-279).
    [​IMG]


    “Khăn xếp (khăn đống) luôn có màu đen hoặc màu xanh, và đây cũng là một loại vải trong nước.” (Pg 279)

    “Những người thuộc tầng lớp dưới thường được mặc vải cotton, họ ít dùng lụa. Áo bông cotton của họ được nhuộm một màu nâu sẫm, như rám nắng. Màu này được tiết xuất từ các gốc củ mà tôi đã đề cập đến”(Trang 279).

    “Trang trí bằng các kim loại quý, đá quý, ít xuất hiện. Các phụ nữ thỉnh thoảng đeo vòng tay bằng vàng. Đá quý được đeo, nhưng sử dụng thường xuyên nhất là ngọc trai, và hổ phách lấy từ Yu-nan “(Trang 279).
    [​IMG]


    “Những người phụ nữ đeo hoa tai và cột tóc bằng một cây trâm với một cái đầu vàng trang trí.” (Trang 279)

    “Người Đông Dương đi những đôi dép không có gót. Nó được chú ý, rằng trang phục của người Trung Quốcvới đôi bàn chân nhỏ trong số những người phụ nữ không biết đến Đông Dương” (Trang 279-280).
    [​IMG]


    Từ những hình ảnh và minh họa mà tôi đã nhìn, có vẻ như là đầu triều Nguyễn (1802-1945) khăn xếp rất cồng kềnh, do thực tế là vải cần được tự quấn quanh tóc. Cuối 19 đầu thế kỷ 20, khăn xếp trở nên ít cồng kềnh và cuối cùng không cần quấn, nhưng có phần vải cứng cho phép người mặc dễ dàng đưa vào và đội mũ của mình.

    Nhưng dù sao điều này có thể là cuối cùng của thông tin đồ họa thời trang Việt Nam, như tôi hy vọng sẽ nghiên cứu Vương Quốc Champa tiếp theo.
     
    Hoạt Lịch Sam likes this.
  5. TrinaJane

    TrinaJane Tác truyện nữ tử
    Moderator

    Joined:
    Jul 26, 2014
    Messages:
    1,428
    Likes Received:
    519
    #5 TrinaJane, Jun 17, 2017
    Last edited by a moderator: Jun 18, 2017
    Cảm ơn bài viết của bạn. Nó rất hữu ích cho những ai viết truyện về cổ đại. Nhân đây mình sửa lại 1 số chỗ bản thân cảm thấy chưa đúng nhé

    Cậu của Vua được gọi là Cữu Cữu thôi. Còn Quốc cữu một nghĩa thì giống như nghĩa của từ Quốc trượng (cha vợ Vua), nghĩa khác là chỉ anh em trai của Hoàng hậu

    Đến nay chưa có bất kỳ tài liệu nào cho thấy cách gọi chính thức về Vợ của Hoàng tử. Nhưng mình có thể khẳng định với bạn là không có “tước vị” nào trong Hoàng tộc mang tên Hoàng tức. Các Hoàng tử sau khi được phong là Vương thì vợ sẽ được gọi là “phi” tùy theo thứ bậc cao thấp của bản thân mà sẽ được của là Chính phi hay Thứ phi (Trắc phi) hoặc cũng có thể được gọi theo tước hiệu của chồng là Vương phi.

    Còn về Vợ của Thái tử sẽ được gọi là Thái tử phi nếu là vợ chính thức còn những thê thiếp sẽ có những cấp bậc khác như: Lương đệ, Lương viên, Thừa huy, Chiêu huấn, Phụng nghi. Không hề có bất kỳ tước hiệu nào là “Hoàng phi” nếu có thì là Hoàng quý phi, ngôi vị phi tần cao nhất trong Hậu cung của Vua chỉ xếp sau Hoàng hậu được thêm vào từ thời nhà Minh ở Trung Quốc và có ở thời nhà Nguyễn ở Việt Nam. Thực ra có một bộ phim của Lâm Tâm Như tên là "Khuynh thế Hoàng phi", cái này...mình không rõ lắm. Nếu cậu tìm hiểu thêm thì chia sẻ cho mình và mọi người cùng biết nhé :)

    Thế tử cũng giống như Thái tử. Chỉ khác ở chỗ một người là người sẽ nối ngôi của Hoàng đế, một người sẽ là người nối ngôi của Quốc vương nước nhỏ hoặc nước Chư hầu. Vậy nên người được sắc phong làm thế tử không nhất thiết phải là con trai trưởng.

    Từ Cô gia này lúc xem phim Lương Sơn Bá- Chúc Anh Đài bản cũ, mình thấy sau khi Chúc Anh Đài thành thân với Lương Sơn Bá, Ngân Tâm, người hầu của Anh Đài lập tức gọi Sợn Bá là “cô gia”. Vậy nên mình nghĩ từ cô gia này không dùng để vua chúa tự xung đâu bạn. Ngoài ra mình có xem một đoạn trong Lan Lăng Vương phi, trong đó khi nói chuyện với Thanh Tỏa, Lan Lăng Vương đã tự gọi mình là “cô”. Ở đây chỉ đơn giản là “Cô” thôi.

    Bên ngoại thì dùng từ “biểu…”, bên nội thì dùng từ “đường…”
     

Share This Page